Trận đánh tạm ngừng khi trời tối. Phú mệt nhoài ngồi tựa vào vách hầm giơ tay với cái bi đông lắc lắc. Thấy run tay, anh quăng nó xuống chân vì nhớ ra cả trung đội anh suốt từ sáng cho tới giờ không còn một giọt nước nào. Sau khi bọn Mỹ chiếm được con suối dưới chân đồi thì vấn đề nước trở nên hết sức gay go. Xung quanh chẳng còn chỗ nào có nước. Việc bọn Mỹ chiếm được con suối nằm ngoài dự kiến của các anh. Vì vậy mà không có sự chuẩn bị trước. Hôm nay nữa là ngày thứ tư, trung đội Phú chốt ở đồi không tên. Nắng rất gắt và bọn Mỹ dội bom pháo không ngớt hòng tiêu diệt các anh. Nhưng kì lạ là các anh cứ sống, cứ chiến đấu như thách thức kẻ thù.
Phú khạc ra một cục nước bọt đầy bụi, dẻo quẹo. Anh đứng lên chui ra khỏi hầm. Cậu Thùy lò dò đi đến cười toét:
- “Có sứt sợi lông chân nào không anh Phú?”
- “Tớ chưa kiểm tra lại, nhưng mà tin chắc là không”. Phú đáp cùng với giọng lạc quan tếu như thế.
- “Anh Phú có đi uống nước không?”
- “Ở đâu vậy?” Phú tò mò.
- “Kìa!” Thùy chỉ tay xuống sườn đồi.
- “Đó làm gì có nước?”
- “Có đấy anh ạ. Bây giờ gió đã lặn và sương bắt đầu xuống. Chốc lát là tha hồ mà liếm”. Thùy lại cười thật to.
Cậu ta bao giờ cũng vậy. Không nói nhỏ cười nhỏ được. Họ ngồi xuống một mô đất Thùy thở dài.
- “Haiz, đói kinh khủng.”
- “Tớ chẳng đói. Chỉ khát thôi.”
- “Giá mà tắm được một cái thì phải biết.” Thùy duỗi chân ngáp. “Bọn Mỹ đối xử với mình hơi tệ đấy.”
- “Trách nó làm gì? Chúng ta đã dã cho chúng nhừ tử. Cậu tưởng như vậy là chúng ta lịch sự với bọn chúng lắm đấy hả? Này! Cậu tranh thủ ngủ đi. Tớ đến xem anh em ra sao đã.”
- “Ừ, anh đi đi. Em đi uống nước đấy.”
Lúc sau trở về Phú thấy mấy bóng người lom khom dưới sườn đồi. Rồi Thùy từ dưới đi lên miệng khà khà, nghe có vẻ khoái trá.
- Anh hỏi: “Làm gì cho đó thế?”
- “Uống nước anh ạ?”
- Phú cười hỏi: “Uống no chưa Thùy?”
- “Lúc nãy mà có cái hồ thì cũng uống cạn.” Thùy đáp vẻ ao ước.
Phú xúc động chớp mắt. Chưa bao giờ anh nghĩ lại có những con người ngồi chờ sương xuống để liếm trên những ngọn cỏ, mong làm dịu cái lưỡi khô cong. Nhưng quái ác là cỏ cũng bị đào đi bới lại nên giờ trở nên hiếm một cách đáng bực mình.
Phú chợt bật cười vì bữa tiệc trà có một không hai. Chắc trên thế giới chưa ai biết được cái ngon ngọt của nước như các anh bây giờ đâu nhỉ.
- “Anh Phú đi uống nước đi. Em đã làm hết cả một héc ta rồi.”
- Phú cầm tay Thùy thấy thương hơn bao giờ hết: “Ngồi xuống đây Thùy.”
Cả hai ngồi xuống đất.
- “Chà, trăng sáng thật.”
- Thùy nói: “Trăng này là trăng của chúng mình đấy. Dẫn người yêu đi dọc bờ sông Mã thì phải biết.”
- “Lại nhớ cô ấy rồi chứ gì?”
- “Nhớ chứ, anh Phú. Thường trong gian khổ người ta thích nhớ về tình yêu phải không anh?”
- “Phải” Phú trầm giọng đáp. “Nhưng lúc thế này nên nhớ người yêu. Nó sẽ giúp chúng ta thêm sức mạnh để sống và vượt qua gian khổ.”
Thùy lựa một cục đất ném ra xa nói: “Cũng một đêm trăng sáng như thế này chúng em đi dọc bờ sông Mã. Đêm cuối cùng của em và Vân, chúng em im lặng đi. Biết nói gì lúc đó nhỉ? Thề thốt với nhau ư? Ngỡ ngẩn. Nói chuyện văn học à? Cũng ngỡ ngẩn nốt. Chẳng biết nói gì. Thương nhau quá anh ạ. Cuối cùng đêm khuya. Đêm khuya lắm rồi. Ra về cô ấy đòi được hôn. Cái hôn đầu tiên trong đời. Em đang định hôn cô ấy thì… Anh biết làm sao không? Một thằng cha chuyên đi ăn trộm khoai ì ạch vác cái bao từ dưới ruộng lên. Hắn giật mình, chúng em cũng giật mình. Hắn quẳng cái bao, bỏ chạy. Còn chúng em ra về.”
- “Cậu chưa hôn bao giờ phải không?” Phú xúc động vì lời tâm sự khác thường của bạn. Nhích đến sát cậu ta hơn.
- “Chưa. Thế mới thương cô ấy.” Thùy trầm giọng sâu lắng như muốn thương cả chính mình.
- “Rồi các cậu sẽ được hôn nhau nhiều.” Phú an ủi.
- “Khi nào?”
- “Hết chiến tranh.”
- “Xa quá.” Thùy nhún vai hơi buồn. “Đoạn trước em nhận được thư Vân. Vân nhắc đến kỷ niệm của hai đứa làm em thương phát khóc. Cô ấy vẫn đợi em. Vân dễ thương lắm anh ạ. Năm nay cô ấy 18.”
Phú đang định đính chính cho Thùy nhưng kìm lại được. Anh biết rõ là năm nay Vân 20. Khi mới về Thùy đã khai hết lý lịch của mình và người yêu với mọi người. Cả trung đội ai cũng biết điều đó. Đến bây giờ sau 2 năm Thùy lại vẫn nói Vân 18. Có lẽ trong lòng cậu ta Vân sống mãi với cái tuổi đó. Cũng như anh, Lý – cứ sống với cái tuổi 18 trẻ trung. Quả thật anh không thể hình dung nổi vợ già hơn cái ngày anh ra đi. Dù đã 7-8 năm rồi. Có thể như thế mà hay cho người chiến sĩ đấy. Tuổi trẻ đối với họ là thiên liêng, là vĩnh cửu.
- “Anh nhớ chị ấy không anh Phú?”
- “Nhớ chứ. Giá lúc này được về làm ruộng với vợ thì tốt quá. Chấm dứt được chiến tranh dù có về đội phân lên đầu, đi bón ruộng giúp vợ cũng vui.”
- “Nhưng đến bao giờ thì chiến tranh chấm dứt? Em lo quá. Chỉ sợ không sống được đến tận ngày đó.”
- “Cậu nói bậy. Hãy nhớ đến Vân còn chờ cậu. Nhớ đến người yêu là một niềm an ủi kỳ diệu, Thùy à!”
Hai người còn nói chuyện rất nhiều, rất nhiều nữa về vợ mình, người yêu mình, về những kỷ niệm thời quá khứ không biết còn quay lại không. Phú chợt thấy nhớ vợ đến nao lòng. Anh hình dung ra đêm nay Lý ngồi thao thức nghĩ đến anh. Lý thầm thì gọi tên anh.
‘Ôi! Lý thân yêu của anh, Lý dịu dàng độ lượng của anh. Đừng có thức nhiều như thế. Ngủ đi. Ngủ đi em. Em hãy giữ gìn sức khỏe. Hãy tha thứ cho anh vì đã bỏ em lại với tuổi xuân chẳng còn dài gì mấy. Giá anh có thể bù cho em được những mất mát và chịu đựng đã đè lên vai em. Nhưng Lý ơi! em hãy tin rằng anh sẽ trở về với em. Anh không chết được đâu. Em đừng sợ. Anh sinh ra đâu phải để chết ở một nơi không có em. Nào hãy ngủ đi. Ngủ cho ngoan.’
Đột nhiên một quả đạn pháo từ trận địa địch rót sang, nổ ngay trước mặt hai người, mở đầu cho một trận pháo kích mới. Phú bị hất tung và cảm thấy tức thở. Anh như muốn xỉu đi. Mãi một lúc lâu sau Phú mới mở được mắt, anh lồm cồm bò dậy, ho lên mấy tiếng khục khặc. Nhìn sang chẳng thấy Thùy đâu. Phú hốt hoảng gọi:
- “Thùy ơi, đâu rồi, Thùy?”
Chẳng thấy trả lời. Phú dụi mắt nhìn nơi Thùy ngồi lúc nãy, chỉ thấy còn lại một cái hố pháo, vạt áo bên hông của Phú máu chảy đầm đìa.
“Phải, có một cái thời sống giữa cái chết. Ta thường hay nhớ về vợ ta. Thời đó đối với ta, người vợ đáng yêu đáng quý đến mức có thể hy sinh tất cả được”. Phú thảng thốt nghĩ. “Ta đã thường nghĩ về vợ như nghĩ về một vị thánh, luôn luôn phù hộ ta theo mỗi bước chân. Ta đã xây đền thờ trong lòng để thờ phụng. Có lúc ta nghĩ, nếu không may mà chết ở chiến trường, không có vợ bên cạnh, ta sẽ không nhắm được mắt. Chẳng lẽ tất cả những cái đó đều là vô nghĩa, đều là thứ tình cảm vớ vẩn cả hay sao? Lẽ nào ngôi đền trong lòng ta đã sụp đổ tan tành, như cái cành cây mục kia vừa rơi xuống đất đã gãy nát. Tội nghiệp quá, Lý ơi!”
Một tiếng nức bật ra từ phía sau lưng khiến Phú giật mình choàng ra khỏi tâm trạng nặng nề. Anh quay đầu nhìn lại thì thấy rõ ràng vợ anh đang đứng đó từ hồi nào ném nép sợ hãi. Phú bàng hoàng nhìn người vợ mà anh hằng nghĩ đến suốt 12 năm trời nay. Người vợ đó là nỗi khao khát của tuổi trẻ anh, là niềm hy vọng của cuộc đời anh, và bây giờ cũng là nỗi khổ đau của anh. Anh vùng dậy, đưa tay ra phía trước, mừng rỡ và tuyệt vọng. Lý sợ hãi đi giật lùi, giật lùi như sợ anh nuốt sống mất.
- “Lý!”
Tất cả thương yêu và hờn giận đều chứa chất ở trong tiếng kêu đó. Chị giật mình nghe anh gọi, cứ run lên. Anh lao tới ôm chầm lấy chị. Cả hai đều nghẹn ngào, thằng bé Thịnh thì thô lố cặp mắt đứng nhìn như xem một trò lạ. Hai người cứ ôm chặt lấy nhau và cùng khóc lặng lẽ. Những giọt nước mắt của 12 năm chờ đợi cứ vội vã tuôn.
Đột ngột Phú buông tay đẩy mạnh vợ ra, nhìn trân trân vào chị. Còn chị thì cắm cái nhìn xuống đất. Mãi sau chị mới mếu máo nói không thành tiếng.
- “Em, em có tội với anh”. Và chị khóc.
- “Thôi im đi”. Phú quát. “Trời ơi, đồ phản bội.”