Năm 1976, Phú từ chiến trường miền Nam trở về một cách muộn màng. Cuộc chiến tranh chấm dứt đã một năm. Những ai còn sống cũng tìm về thăm gia đình, ít ra thì cũng có lá thư báo tin mình sống sót. Riêng Phú, một lá thư cũng không. Cả làng chờ mong mãi, cuối cùng đi đến kết luận là anh không còn nữa.
Thật tình anh cũng có gửi thư về đấy chứ, nhưng không hiểu sao gia đình không nhận được. Phú khấp khởi bước trên con đường trở về làng Đan. Bây giờ nom cũng xa lạ như bất cứ con đường làng nào mà anh đã đi qua. Dưới đám ruộng, bà con xã viên đang làm cỏ lúa. Một người nào đó nhìn lên và hét thật to: “À, chị em ta ơi! Có một anh bộ đội nữa về! Mau lên, ai mau chân thì được!”
Tiếng kêu của cái thằng đàn ông bấy giờ nghe sao có vẻ tàn nhẫn đến thế. Mọi người đang cặm cụi làm, đều ngẩng cả lên. Đúng là có một anh bộ đội thật. Anh hoa tay lên chào và hét thật to một điều gì đó: “Ai thế? Ai thế nhỉ?”
Đám phụ nữ nhướng mắt lên nhìn. Mấy chị góa chồng liếc thật nhanh sang phía mấy cô gái trẻ. Bỗng một chị quăng cả quốc, chới với hai tay rồi òa khóc. Vừa khóc, chị vừa chạy như điên băng qua đám ruộng, đuổi theo người lính kia. Tiếng chị khóc rờn rợn như khóc người chết. Chị kêu to: “Anh ơi!”
Phú đứng lại, chưa kịp quay người thì chị đã lao tới, ôm chầm lấy anh. Bị bất ngờ, Phú lúng túng mất một phút. Anh ngơ ngác nhìn người phụ nữ, không phải vợ anh. Phú xúc động ôm lấy vai chị vỗ về mà không biết nói sao với chị cả. Chị sụt sịt và nhấp nháy đôi mắt cay cay. Người anh run lên theo tấm thân đang run run của người phụ nữ trong tay anh.
Chị để mặc anh lau nước mắt cho chị đang chảy đẫm gò má, đẫm cả ngực áo anh. Chị khóc một lúc lâu rồi buông anh ra, cười trong nước mắt:
- “Anh, em mừng cho anh đã được trở về. Thế nhưng chồng em đâu? Chồng em đâu rồi hả anh?”.
Phú muốn nói một lời an ủi, nhưng chưa kịp nói gì thì chị đã kéo sụp cái nón xuống và bỏ đi. Lưng chị còng xuống, dáng đi tất bật, tức tưởi. Phú nhìn theo, đau nhói. Có khi vợ anh cũng đang chờ mong anh như thế đấy. Ôi chao, cô ấy cũng khắc khoải mòn mỏi như thế. Cô ấy cũng đã lầm người khác với anh như thế. Phú vội vã đi nhanh hơn. Anh sợ mẹ anh, vợ anh, sợ mọi người phải chờ anh thêm ít phút nữa. Lúc này mà bắt họ chờ đợi thì không nên.
Đang là thời vụ làm cỏ nên hàng xóm vắng teo vắng ngắt. Những đứa trẻ con lúc đầu xô ra đón người lính. Nhưng cuối cùng nhận ra đó là người lạ thì chúng tản đi. Bây giờ bộ đội về làng không ít. Có cả những ông đại tá hay trung tá nữa. Bọn trẻ chỉ thích chiêm ngưỡng những người đeo quân hàm nhiều gạch nhiều sao, đeo cả huân chương nữa thì nhất. Còn cái anh này không thấy đeo gì cả. Có nghĩa đó là một anh nuôi hay là quản lý nào đó mà thôi. Mấy người già từ trong nhà ngó ra lòng mừng thầm cho ai đó được đón chồng, đón con, sống sót trở về. Các cụ bảo mấy đứa trẻ hỏi xem đó là ai thì được chúng trả lời: “Đó là anh chiến sĩ nuôi quân ở làng bên đấy ạ”. Theo ý nghĩa đơn giản nhất của chúng thì làng chúng toàn là lính trận cả, còn những người lính chưa bao giờ cầm đến khẩu súng thì chỉ có của làng khác thôi.
Phú nghẹn ngào đi trong lối xóm, trên con đường gập ghềnh dẫn về nhà mình. Anh chợt cảm thấy tủi thân vì chẳng có ai đó lúc này hỏi anh một câu. Anh sẽ không nén được mà khóc òa lên như một đứa trẻ mất.
Đến một lối rẽ, Phú đứng lại nhìn con đường. Mười hai năm qua, dù trong chiến tranh làng xóm vẫn thay đổi nhiều, cái xóm nhỏ của anh bây giờ nhà cửa cứ san sát nhau. Hồi anh mới dựng nhà ra đây, cả xóm mới có bảy tám nóc nhà, bây giờ đến bốn năm chục cái. May quá! Chiến tranh không cấm được người ta, cứ lấy vợ lấy chồng và sinh con đẻ cái. Phú thấy vui vui khi nghĩ đến điều đó. Anh đưa mắt xác định nhà mình ở giữa những nhà khác.
Đúng rồi, cái lối vào nhà anh đây, hồi trước là một lối nhỏ, bây giờ người ta đã đắp lại rộng hơn và đã trồng hai hàng cây. Cái đám ruộng sâu này chắc chắn là cái ao làng thủa trước. Cái ao thủa còn chăn trâu, anh thường ra ấy tập bơi. Bây giờ nó đã cạn, người ta cấy lúa ở đó. May mà mười hai năm vào sống ra chết, vẫn không xóa nhòa được trong anh cái hình ảnh thân thuộc. Anh bước rón rén, như sợ làm đau đất. Khi ta đi xa lâu thật lâu, rồi trở về đến ngõ nhà, ta mới thấy thấm thía nỗi nhớ của mình, cảm thấy quê hương mới thực sự thiên liêng. Phú lần mò đi trong lối xóm, mấy lần đứng lại vì quá xúc động. Cuối cùng thì kia, đúng nhà ta rồi. Phú muốn reo lên trong nghẹn ngào nước mắt.
Nhà ơi! Chợt Phú đau nhói khi một mái nhà tranh hiện ra trước mắt. Mái tranh đã cụt lòi cả hom, thủng cả lỗ chỗ. Cái vách đất xám xịt, bị mưa gió dội, giờ sơ cả rơm ra. Rõ ràng đã từ lâu nó không hề được tu bổ lại. Một con lợn mõm nhọn, đang ra sức ủi vào cái nền nhà vốn đã lở hoác. Phú ngậm ngùi nhìn cảnh hoang tàn, cứ tưởng mình vào nhầm nhà ai. Nhà anh có vợ anh, có mẹ anh và các anh em của anh, chắc chắn là phải khác cái nhà nom như vô chủ này.
Anh còn khoác nguyên ba lô đứng đó, chợt thấy một chú bé khoảng 5-6 tuổi đang cúi lom khom sau vại nước quan sát anh. Nó bé nhỏ tới mức còn thấp hơn cả cái vại. Mái tóc nó được cắt bằng kéo nham nhở, mắt nó thao láo, ngạc nhiên và sợ hãi. Khi anh bước đến, nó tính bỏ chạy, nhưng anh kịp chụp được. Nó ngồi sụp xuống như kiểu nằm vạ. Phú ôm nó đứng lên. Nó vặn tay hòng thoát ra, nhưng anh liền ôm chặt lấy nó mà cười cho thật hiền để trấn an, rồi hỏi:
- “Cháu làm gì đây?”
- ”Chơi”. Nó đáp cộc lốc.
- “Chơi một mình à?”
- “Một mình”.
Phú gật đầu thông cảm chỉ tay vô nhà.
- “Nhà cháu à?”
- “Chứ còn nhà ai nữa?”
Anh không thích cái lối trả lời hơi có vẻ thiếu giáo dục của đứa bé, nhưng vẫn hỏi:
- “Mẹ cháu đâu rồi?”
- “Đi làm”.
- “Này, thế mẹ cháu là ai vậy?”
- “Hỏi làm gì?”
- “Hỏi cho biết. Mẹ cháu tên là gì?”
- “Tên Lý chứ tên gì nữa?”
Phú suýt té ngửa, nhưng vội trấn tĩnh được. Anh lặng người mất một lúc vì cái điều vừa nghe có vẻ phi lý quá. Lý nào vậy nhỉ? Có phải vợ anh không? Vợ anh sao lại… Thằng bé trố mắt nhìn anh, còn anh thì băn khoăn nhìn nó. Không có nét nào quen cả. Hay anh đã vào nhầm nhà? Lẽ nào lại như thế được? Anh nhìn lại ngôi nhà, cái vườn, cái ngõ. Mặc dù anh sống trong ngôi nhà mình chưa lâu lắm, chỉ vỏn vẹn nửa tháng và đã xa 12 năm trời. Mười hai năm đó anh luôn nhớ về nhà mình, nhưng không tài nào hình dung nổi. Chỉ lờ mờ trong anh một cái nhà tranh, một gian hai chái, như muôn vàn những cái nhà tranh một gian hai chái khác. Nhưng chẳng ai lại quên hết về cái tổ ấm của mình, dù cho chỉ sống ở đó một giờ đi nữa. Phú tin chắc đây là nhà anh, không thể khác. Khi trở về đứng trước nhà mình, tất cả đều trở lại quen thân biết mấy. Mà ngôi nhà của anh cũng không lột bỏ được cái hình dáng thấp lè tè, có chiều dài không có chiều rộng của bà Lình Sử. Anh thích sống với cha mẹ hơn, cả Lý cũng vậy. Nhưng người ta không thể cứ sống với cha mẹ mãi. Xây dựng gia đình và có nhà riêng đó là hạnh phúc lớn lao của thanh niên làng Đan. Các bậc cha mẹ cũng lo được cho con cái như vậy là yên tâm nhắm mắt mà không dằn vặt gì. Thế nên, Phú và Lý có nhà riêng. Thật ra 12 năm qua anh ít nhớ về ngôi nhà. Cái mà anh nhớ nhất vẫn là vợ anh, một cô gái nết na, duyên dáng. Anh nhớ đến từng cái chun mũi, nheo mắt, đến cả cái nốt ruồi bé tí xíu trên ngực vợ. Phú chợt bừng tỉnh, anh nhớ sau nhà có một cây khế nhỏ hai thân quấn vào nhau như một cặp vợ chồng. Anh đâm bổ ra, cây khế đã bị chặt từ lâu, còn lại cái gốc mối đùn lên. Ngày anh chuẩn bị “đi B”, được đơn vị cho về phép, anh hay hái khế cho Lý ăn. Anh bóc từng múi mời Lý. Và… tuy khế rất ngọt, Lý cũng vờ nhăn mặt, trông rất buồn cười. Phú hỏi: “đến lúc nào thì em thèm của chua nhỉ?”
Phú quay vào, thấy thằng bé vẫn kiễng chân ngó anh. Nó theo dõi anh không bỏ qua một bước. Anh hỏi nó:
- “Này! Thế cha cháu là ai vậy?”
- “Hỏi làm gì?”
- “Cháu không thích thế à?”
- “Không”.
- “Thôi được. Này! Cháu không mời chú vào nhà à?”
- “Không”.
- “Vì sao?”
- “Vì không có chìa khóa”.
Phú ngồi xuống một đoạn cây mục, mở ba lô, móc ra một gói kẹo, đưa cho nó. Mắt nó sáng rực lên, háo háo nhìn vào gói kẹo. Anh bảo: “Cầm lấy”.
Nó không nhúc nhích. Anh dúi vào tay nó:
- “Cho cháu, này, cầm lấy”.
Nó nghi ngờ nhìn anh.
- “Cho thật á?”
- “Thật đấy”.
Nó dè dặt nắm tay lại, nhìn gói kẹo rất lâu.
- “Cháu ăn được à?”
- “Được”.
Đến lúc này nó mới tin, gói kẹo là của nó. Nó có quyền ăn. Có quyền ăn một lúc 5 cái, 10 cái, ăn cả gói cũng được. Thật là một giấc mơ.
- “Chưa ai cho cháu kẹo bao giờ” Nó tâm sự.
Phú gật đầu tỏ vẻ thông cảm. Anh nhìn thằng bé dùng răng xé gói kẹo rất nhanh. Rồi nó thản nhiên ăn. Phú quan sát nó. Thấy cái miệng nó chun chun, thầm nghĩ: “Giống miệng ai thế nhỉ? À, đúng rồi. Giống cái miệng của…” Anh không dám nghĩ tiếp. Ngẩn ngơ kéo thằng bé lại gần. Lúc bấy giờ thằng bé đã có vẻ dễ dãi hơn. Nó xích lại bên anh, tay vẫn không ngừng bóc một cái kẹo khác.
- “Cháu tên gì?”
- “Tên Thịnh”. Nó đáp và há miệng thò ngón tay vào móc một miếng kẹo dính ở trong răng.
- “Chắc cháu không thích chú đâu, phải không?”
Nó gật gật, nói lung búng:
- “Thích chứ”
- “Sao lúc nẫy cháu không muốn trả lời chú?”
- “Trả lời gì nào?” Nó bỏ tay ra chùi vào áo, rồi thân thiện nhích sát vào anh thêm một chút.
- “Mẹ cháu đi làm suốt, bắt cháu trông nhà. Mẹ bảo không được đi đâu đấy. Bọn ác ôn nó đánh chết. Bọn ác ôn là con lão Tự ấy mà. Chúng ác lắm. Đánh cháu luôn ý. Cháu ở nhà khi nào cũng có dao”. Nó chạy đến bên đống củi, xách ra một con dao to bản, dứ dứ.
- “Hễ bọn ác ôn đến, kéo sang. Cháu cầm lấy dao, chúng chạy liền. Mà cháu phải giấu dao lung tung cơ, không thì chúng trộm mất”.
- “Rõ ràng là có một cái gì đó không ổn đối với thằng bé này” Phú nghĩ. Anh hỏi nó:
- “Cháu có bà không?”
- “Cháu làm gì có bà? Có người bảo mụ Biển là bà cháu. Có người lại bảo không. Cháu thì dứt khoát, mụ Biển không phải là bà cháu. Đúng không chú?”
Phú đau nhói lên trong ngực. Anh lắc đầu nghiêm khắc:
- “Cháu không được nói như vậy. Không phải mụ mà là bà. Hiểu không? Thế bà đâu rồi?”
- “Ngoẻo rồi”
- “Sao?”
- “Chết queo từ lâu rồi”
- “Khốn nạn”. Phú dứt giọng. Cứ muốn tát cho nó một cái. Nhưng thằng bé cứ tỉnh bơ, nói tiếp.
- “Mẹ cháu khóc ghê lắm. Cứ ôm lấy cái chân bà ấy mà tru tréo lên. Một lần thằng kia đánh cháu chảy máu mũi nhiều lắm chú ạ. Mẹ cháu cũng khóc, bảo cháu: ‘im đi’. Đàn bà thì khi nào cũng khóc. Ái chà. Mẹ cháu hay khóc như đàn bà ấy. Có lần lão Tự sang cho tiền. Mẹ cháu ném cho lão một cái ghế rồi khóc hu hu. Chán cực kì”.
Phú chồm dậy nắm tay thằng Thịnh:
- “Lão ấy? Lão Tự ấy mà. Có hay sang chơi với cháu không?” Phú thì thầm như nghẹn thở.
- “Không. Vì cả cháu và mẹ cháu đều ghét lão. Cả mụ Tự cháu cũng ghét nữa. Mụ ta điêu lắm cơ. Mụ ấy cứ chửi mẹ cháu luôn mà mẹ cháu không chửi lại được. Cháu bảo: ‘câm đi mụ già, chơi với mụ chán lắm’.”
- “Thôi câm đi. Đồ nhóc con”.
Phú quát lên làm thằng bé buông rơi gói kẹo và sợ hãi lùi ra xa. Nó nghe trong tiếng kêu của người lính này vừa có cái gì hoảng hốt, cái tuyệt vọng, lẫn cái căm giận. Một linh cảm tai họa bỗng đến. Nó co giò bò chạy, còn Phú thì úp mặt vào hai bàn tay. Cảm thấy trời đất tối sầm lại như sụp đổ. Và không hiểu sao lúc này những hồi ức đã đi qua cứ ào ào quay trở lại làm anh đau nhói. Phải, những tháng ngày gian nan trong cuộc đời người lính của anh có lúc nào vắng bóng người vợ dịu hiền của mình. Lẽ nào đây là cái giá của sự trông đợi, tôn thờ? Nếu vậy, thì đắt quá, chua xót quá.