Chạng vạng tối, Phú mới về. Anh thấy vợ đang vừa băm rau cho lợn, vừa chạy đi chạy lại giữa đống rau và bếp lửa trong nồi cơm. Bên cạnh, đứa con một tuổi nằm lăn lóc, khóc ngằn ngặt. Tiếng khóc hòa lẫn vào tiếng lợn kêu đinh tai nhức óc và đàn gà con đứng ở ngoài chuồng kêu chiêm chiếp vì bị con mẹ mái hung dữ chặn ở cửa chuồng không cho vào.
Phú hỏi vợ: “Thằng Thịnh đâu?”
Vợ anh không ngẩng đầu lên, đáp: “Đi rồi.”
“Đi đâu?”
Chị vợ càng cúi gằm mặt xuống: “Nó bỏ đi”
“Sao?” Phú sửng sốt
“Nó bỏ đi”.
“Thế nghĩa là thế nào?”.
“Làm sao mà em biết được?”.
“Cô không đuổi nó đi đấy chứ?” Phú nghi ngờ nhìn vợ.
“Đuổi á? Không. Đối với thằng Thịnh thì không cần đuổi. Nó cũng biết cách bỏ đi”
Phú quăng cái hái lên bó lúa rồi ngồi phịch xuống thềm, cảm thấy mệt ghê gớm. Cứ muốn sụm xuống như không còn xương. Anh ngồi im lúc lâu quên cả cơn khát xé cổ suốt từ chiều tới giờ. Vụ này lại mất mùa, nặng nề nhất trong bảy vụ lúa kể từ ngày anh về làng. Những bông lúa cằn cụt, thun lủn lép phân nửa. Vì vậy mà những hạt trác còn lại trở nên vô cùng quý giá. Người ta đi gặt, nâng niu những bông lúa, không dám đụng mạnh. Không khí ngày mùa chậm chạp lặng lẽ. Người ta cắm cúi làm công việc của mình, ít hỏi han nhau.
Phú xách cái ấm nhôm cạnh đó, rót một ca nước chè xanh đưa lên miệng làm một hơi, tiếng nước chảy vào cái bụng rỗng nghe ông ốc. Phú thiết tỉnh người ra. Anh đến bên đứa bé, lúc nó hãy còn dãy trên nền đất, mang nó đi tắm. Đứa bé vốn thích nước, nên khi được đặt vào trong thau, nó im liền. Phú mỉm cười nhìn con đập nước, và mỗi lần nó reo lên cười thì anh cũng cười rộ. Nhìn hai bố con tắm với nhau, chị Vượng thấy nhẹ nhõm trong người.
Hai bố con tắm xong, chị Vượng bỏ bếp chạy ra đón con. Mọi khi chị ấy hay ỉ vào anh, nhưng hôm nay chị không muốn thế. Anh trao con cho vợ rồi đi ra giếng. Anh tự giặt luôn quần áo của mình và của con. Tiếng anh đập tay nghe bộm bộp.
Chị Vượng chạy ra: “Anh để đó đi, tí em tắm rồi giặt luôn thể.”
Anh không nói gì, cứ tiếp tục giặt, Vượng quay vào. Giặt rũ phơi phóng xong, Phú vẫn đứng trầm ngâm bên giếng. Một nếp nhăn lớn hẳn sâu trên trán anh. Đột nhiên anh hốt hoảng nhìn xuống giếng, thầm kêu lên: “Thằng Thịnh!”. Rồi thở phào nhẹ nhõm vì thấy mặt giếng im lìm mà những ngôi sao lung lay mở nhạt xa hút như ở bên kia trái đất. Anh nghĩ bụng, dưới đó chắc là Mexico hay Cuba gì đó. Hồi xưa, mỗi lần nhìn xuống giếng, anh thấy một mảnh trời xanh và tin rằng nếu ném xuống đó một hòn đá, nó sẽ rơi mãi, rơi đến không cùng. “Chà, giá như biết được bên kia trái đất, con người sống, ăn ngủ, sinh hoạt, nghĩ ngợi như thế nào nhỉ?” Phú giật mình nhận ra anh đang lẩn thần không giống ai. Anh bước vào nhà, thấy Vượng đang nhét cái vú đồ sộ vào miệng con, còn một tay cầm tay con đập đập vào cái vú kia. Tự dưng anh thấy bực bội, liền quanh phắt đi. Rồi không biết nên làm gì nữa, anh cứ loanh quanh từ trong nhà ra ngoài sân như một tên tù ngỡ ngẩn.
Chị vợ hỏi: “Dọn cơm ăn chưa anh?”
“Dọn đi”
Vượng nhanh chóng đưa con cho chồng rồi bày mâm. Anh bế con ra nhà ngoài.
Khi chị Vượng dọn cơm xong, nhìn ra thấy anh đang nằm, tay vắt qua trán, đứa bé nằm trên bụng.
Chị bước lên ân cần khẽ gọi: “Dậy ăn cơm đi anh.”
“Cứ ăn đi, tôi không ăn đâu.”
“Anh sao vậy?” Chị lo lắng hỏi.
Không thấy chồng trả lời, chị nhắc tiếp: “Anh dậy ăn cơm đi chứ.”
“Đã bảo là tôi không ăn mà lại.”
Thấy chồng cáu kỉnh, chị biết là anh đang bực chuyện thằng Thịnh. Nhưng cớ sao lại cáu chị. Vượng nghĩ tủi thân, bèn giật phắt đứa con rồi bỏ đi.
Phú gọi giật lại: “Này, thế vì sao mà thằng Thịnh nó lại bỏ đi?”
Vượng bối rối, vì chưa biết trả lời ra sao, bèn nhún vai một cái. Phú phát cáu vì cử chỉ đó.
Anh gườm vợ: “Chắc cô đuổi nó đi.”
“Nó cũng chẳng hiền lành gì.”
“Vậy là cô đuổi nó đi.”
“Cái thằng mất dạy ấy, nó tự nghĩ ra trò đó chứ ai mà đuổi nó.” Chị Vượng đã bực lên, nói hơi gay gắt.
Phú vẫn nhìn vợ chằm chằm, nhấn lại như một kẻ đùa dai: “Vậy là cô đuổi nó đi.”
“Tôi á?” Vượng bĩu môi rất dài.
“Chính cô.”
“Tại sao lại là tôi nhỉ?”
“Tại vì cô ghét nó, hiểu chưa?”
“Thế anh tưởng anh thương nó lắm đấy à? Một người cha tuyệt vời.”
Nghe vợ châm trọc, Phú nhỏm dậy: “Cô im đi, không tôi tát vào mặt.”
“Đã nhiều lần cô đuổi nó đi. Cô làm nhục tôi. Cả cô và nó. Các người bêu riếu tôi, ỉa vào mặt tôi. Tại sao các người sống với nhau như chó với mèo thế hả? Tại sao?”
“Anh đi mà hỏi nó.”
“Đã nhiều lần tôi nói với cô rằng sống với nhau phải có lúc thắng, lúc thua. Các người phải nhường nhịn nhau mà sống. Tôi đã cấm cô không được đuổi đánh gì nó hết. Hàng xóm họ chê cười.”
“Nhưng chắc là anh quên.” Chị vợ nhếch mép nói bằng cái giọng không cho người ta cãi: “Anh nhớ lại đi. Hồi sáng anh đã đuổi nó ra khỏi nhà chứ không phải tôi. Anh phải nhớ lấy chứ.”
“Tôi á hả?” Phú ngạc nhiên.
“Dạ, anh. Nó đã nói dối anh và anh quát: ‘Tao tống mày ra đường bây giờ.’ Nó tủi nó khóc suốt cả sáng nay rồi bỏ đi.”
Phú sững sờ nhớ lại buổi sáng nay. Thì ra vợ anh nói đúng. Vượng đắc thắng nhìn cái mặt thảm hại của chồng, méo mó, khổ sở. Tự dưng chị ân hận. Đây không phải là lần đầu hai vợ chồng to tiếng với nhau. Mà tất cả đều bắt đầu từ thằng Thịnh. Chị không chịu nổi nó. Còn anh thì bao giờ cũng bênh nó, gằm ghè với chị. Thế mà, thằng Thịnh nó có biết điều đâu. Lần trước nó bỏ đi, làm Phú giằn vặt ghê gớm, ăn không ngon, ngủ không yên. Hai vợ chồng chị lại hục hặc nhau, đổ lỗi cho nhau.
Mãi sau đó có lần anh tâm sự: “Em đừng làm nó bỏ đi lần nữa, xấu hổ với thiên hạ lắm. Sống không khéo, em lại mang tiếng ác. Em phải biết là anh khổ thế nào chứ.”
Bây giờ nhìn chồng, Vượng thấy nhụt chí. Ngọn lửa chiến thắng vừa được thắp lên giây lát liền tắt ngóm. Chị bế con lật đật chạy ra, Phú nhìn theo thở dài rồi bần thần lúc lâu. Thế là thằng bé lại bỏ đi. Chắc là nó rất căm ghét anh, chứ còn gì nữa, chính anh đã đuổi nó đi. Mà tại sao nhỉ? Anh cố moi trí nhớ xem, mình đã nói gì với thằng Thịnh hồi sáng. Cuối cùng, anh cũng nhớ ra và điều đó làm anh kinh ngạc. Phải rồi, thằng bé nó hiểu sai ý anh. Hồi sáng sớm, thấy nó cắp sách ra khỏi nhà.
Anh hỏi nó: “Hôm nay chủ nhật mà đi đâu, Thịnh?”
“Đi học.” Nó trả lời cụt lủn.
Anh nghiêm khắc nhìn nó: “Chủ nhật á? Học cái gì?”
“Học bài.” Nó không nhìn anh, bình thản đi ra.
Anh hỏi: “Mày học nói dối từ bao giờ vậy?”
Không ngờ nó trả lời: “Ừ, thì sao?”. Nó ngẩng lên thách thức.
Tức giận thật sự, Phú định tát cho nó một cái, xong lại kìm lại kịp. Anh quát: “Ôn con! Mày cứ hỗn láo là không xong với tao đâu. Cứ hỗn láo là tao tống ra đường bây giờ.”
Vợ anh chõ mồm vào: “Đồ mất dạy! Mày ăn với nói với người lớn như thế đấy hả? Tao á, thì tao nện gãy xương ấy chứ. Đồ con hoang!”.
Thằng Thịnh ném thẳng quyển vở vào mặt Vượng, la to: “Tao không phải là con hoang! Mày, tao giết mày!”.
Và nó bật khóc. Nó khóc cũng khác những đứa khác khóc. Môi nó mím lại, răng cắn chặt, người nó rung lên vì những cơn nấc cố nén, nước mắt chảy ròng ròng. Nó khóc không có tiếng, lúc đầu anh ngạc nhiên vì nó, sau cùng thì anh không dám nhìn nó.
Anh bảo: “Nín đi! Có gì mà phải khóc.”
Nó dụi mắt rồi lặng đi bế em. Một chút sau, Phú đã quên bẵng đi chuyện đó. Thế mà rồi nó bỏ đi. Điều đó khiến Phú lo lắng. Lâu nay anh thấy nó đã bắt đầu hiền lành hơn trước, dễ sai bảo hơn.
Dĩ nhiên là sáng nay anh cư xử không khôn ngoan. Và lại vợ anh cũng chẳng nên a dua vào làm gì. Như thế là vợ chồng mình đồng tình mà mắng nó vậy. Cái cô vợ mình bao giờ chả thế, Phú cay cú nghĩ. Cô ta thấy mình mắng thằng bé, chắc là thích thú lắm. Còn thằng bé thì không hiểu anh. Nó bỏ đi, đẩy anh vào chỗ khó xử. Không ngờ nó vẫn bướng bỉnh. Mà đúng ra là do nó bướng bỉnh thôi. Anh chưa hề gặp đứa nào lại lầm lì bướng đến như nó. Thực ra, nó cũng đã phải trả giá nhiều vì cái ngang ngạnh đó.
Có lần mẹ nó hỏi: “Bướng bỉnh như vậy có sướng không con?” Hình như lần đấy nó nói hỗn với một người nào đó và bị người ta xách tai thì phải. Mẹ nó thương nó lắm, nhưng lại bảo anh kia: “Bác cứ đánh cho nó chết đi.” Phú hiểu là mẹ nó nói lấy lòng anh kia thôi, chứ chị đã từng phải nói lấy lòng tất cả mọi người. Còn nó thì đâu có hiểu, những rắc rối mà người lớn tạo ra. Mà người lớn hay coi trọng và quan trọng hóa nhiều vấn đề vốn chẳng có nghĩa lý gì hết. Bởi người lớn đâu có thật thà và nhân hậu như trẻ con. Vì thế nó khóc to lên vì tủi hờn. Khóc không có nước mắt mà người lớn gọi là khóc giả. Nhưng Phú biết nếu khi đó có con dao hay cái đinh trong tay, nhất định nó sẽ đâm anh kia với tất cả hận thù. Nó bất lực giãy giụa vì đau và thét lên những lời chửi mắng anh kia, cũng độc địa như bất cứ mụ hàng tôm hàng cá nào. Anh kia bị nó lôi đến ông cụ cố sáu bảy đời ra mà chửi lấy làm xúc phạm. Cáu kỉnh, đẩy mạnh khiến nó té nhào ra đất, lầu bầu: “Con nhà mất dạy.” Còn nó bị va đầu vào gốc tre, đau điếng. Mẹ nó nhìn theo anh kia đi đã xa rồi, mới chạy đến ôm lấy con mà trào nước mắt. Phú căm giận vì chứng kiến cảnh đó. Anh sờ tay vào nơi thường đeo khẩu K-54, nhưng không có súng, vội vã rượt theo. Mẹ nó bỏ nó xuống, chạy theo níu anh lại mà van xin rối rít, chỉ sợ anh đánh người ta.
Tự dưng Phú thấy căm ghét cuộc đời vô lý này. Anh cay đắng đau đớn, lùi thủi bỏ đi. Rồi ngồi suốt buổi sáng ngoài cánh đồng phù sa, không biết mình đang sống như thế nào đây. Đến trưa anh về, thấy thằng Thịnh đang ngồi mài một thanh sắt. Anh hỏi: “Làm gì đó, Thịnh?” Nó đưa thanh sắt trước mặt anh: “Đâm lão Được!”
Phú chợt hình dung, lúc này ở một nơi nào đó, thằng Thịnh cũng đang mài một thanh sắt thật nhọn. Nó sẽ cầm đến trước mặt anh dứ dứ.
Anh hỏi: “Làm gì đó, Thịnh?”.
Nó đáp: “Đâm lão Phú!”
Nghĩ đến đó Phú cau mày, anh không muốn thành nạn nhân của một đứa trẻ con chút nào. Anh, anh vô tội cơ mà.